Đầu tư công: Gỡ nút thắt có tiền không tiêu được?

(Tài chính) - Tình trạng giải ngân vốn đầu tư công chậm từ lâu đã là căn bệnh trầm kha ở Việt Nam.

Ông Bùi Đức Thụ, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia chỉ ra thực trạng cũng như kiến nghị phương thuốc để chữa căn bệnh giải ngân vốn đầu tư công chậm.

PV: - Trong tuần qua, Chính phủ đã tổ chức cuộc họp trực tuyến thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công. Đích thân Thủ tướng chủ trì cuộc họp và đã chỉ rõ tình trạng giải ngân vốn đầu tư công chậm ở một số dự án trọng điểm cấp bách.

Trên thực tế, tình trạng giải ngân vốn đầu tư công chậm dẫn đến công trình chậm tiến độ, vừa kém hiệu quả vừa tăng gánh nặng nợ (do đội vốn và phải trả lãi cho các khoản vay ngay từ khi đặt bút ký) đã tồn tại từ lâu. Vậy nguyên nhân của tình trạng này là do đâu, thưa ông?

Ông Bùi Đức Thụ: - Tình trạng giải ngân vốn đầu tư công chậm từ lâu đã là căn bệnh trầm kha ở Việt Nam. Đặc biệt trong năm 2019 này, quy mô và mức độ giải ngân chậm tiếp tục tăng lên.

Trong bối cảnh cân đối ngân sách nhà nước hết sức khó khăn, ngân sách thâm hụt phải đi vay, vốn dành cho đầu tư còn hết sức hạn chế thì nhiều dự án lại rơi vào cảnh có tiền nhưng không tiêu được và chuyển nguồn rất lớn.

Số liệu quyết toán năm 2016 cho thấy, số vốn chuyển nguồn lên đến khoảng 287 nghìn tỷ đồng, lớn hơn nhiều so với số bội chi ngân sách nhà nước. Trong khi đó, nếu quản lý, điều hành tốt, chúng ta không cần đi vay mà vẫn có thể đáp ứng được yêu cầu chi tiêu thực tế của đất nước.

Đây là một tồn tại, một trong những vấn đề bức xúc không chỉ làm chậm lại quá trình đầu tư, đặc biệt là đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm tháo gỡ nút thắt, tạo môi trường đầu tư hấp dẫn để lan tỏa, thu hút nguồn lực của các thành phần kinh tế khác, mà còn ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam.

Dau tu cong: Go nut that co tien khong tieu duoc?
Ông Bùi Đức Thụ, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia

Có rất nhiều nguyên nhân, trong đó đầu tiên là nguyên nhân về thể chế. Luật Đầu tư công 2014 ra đời (có hiệu lực từ ngày 1/1/2015) đã có nhiều tiến bộ, khắc phục được tồn tại của cơ chế quản lý vốn đầu tư trước kia, đặc biệt là mức cân đối nguồn trong việc bố trí vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Mặt khác, nó cũng đặt ra rất nhiều quy trình, thủ tục về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản mà khó có thể thực hiện trong thời gian ngắn. Theo đó, một dự án bình thường để triển khai được thì quá trình xây dựng dự án có thể mất từ 1-2 năm. Đây là một trong những nguyên nhân cản trở việc giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản.

Nguyên nhân thứ hai là vốn được bố trí rồi nhưng vấp phải vướng mắc trong giải phóng mặt bằng khi cơ chế, chính sách thay đổi, thị trường bất động sản biến động. Có những cái trước kia chúng ta sửa đổi để có mức đền bù phù hợp cho người dân nhưng sau một thời gian, giá bất động sản trên thị trường lại biến động. Thành ra, khi thu hồi đất một số dự án đầu tư xây dựng cơ bản dùng vốn ngân sách nhà nước lại không giải phóng mặt bằng được. Khó khăn trong đền bù, giải phóng mặt bằng dẫn đến quá trình triển khai các dự án đầu tư xây dựng cơ bản bị chậm lại.

Đáng lưu ý, để đền bù giải phóng mặt bằng được thì phải bố trí chỗ ở cho dân, nhưng cơ chế tái định cư cho dân đến nay vẫn còn nhiều bất cập.

Hệ quả là việc giải phóng mặt bằng để có đất sạch giao cho nhà đầu tư triển khai dự án bị chậm, có tiền mà không giải ngân được.

Những vướng mắc về mặt thể chế như đề cập ở trên tồn tại trong nhiều năm qua. Dù Luật Đầu tư công có hiệu lực từ 1/1/2015 nhưng tình hình thực tiễn cho thấy, từ năm 2015 đến 9 tháng đầu năm nay, tốc độ giải ngân lại chậm dần. 9 tháng năm 2019 ước đạt trên 192 nghìn tỷ đồng, bằng 45,17% so với kế hoạch Quốc hội giao và bằng 49,14% so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, chậm hơn so với cùng kỳ năm 2018. Năm 2018 giải ngân vốn đầu tư công lại chậm hơn so với năm 2017.

Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là năm 2017-2018 chúng ta triển khai ít dự án mới, chủ yếu là dự án đã triển khai đủ thủ tục, đã có mặt bằng, tức là dự án chuyển tiếp. Sang năm 2019 những dự án ấy đã hết, phải triển khai các dự án mới thì gặp phải vấn đề thủ tục chậm.

Thế nhưng đó chỉ là một phần. Cái chính là có nhiều dự án dù không phải là dự án mới nhưng vẫn chậm giải ngân.

Điều đó cho thấy cơ chế phân bổ của chúng ta chưa phù hợp với tình hình thực tiễn. Những dự án chưa có đất sạch thì được bố trí vốn nhiều; những dự án đang triển khai và có thể đẩy nhanh được thì lại bố trí vốn ít; những dự án thậm chí đã hoàn thành, đưa vào khai thác, sử dụng lại không bố trí vốn để thanh toán, dẫn đến nợ đọng xây dựng cơ bản.

Đối với vấn đề này, các cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương đều phải xem xét, chỉ đạo để xử lý, kiên quyết điều chuyển, bố trí vốn cho từng dự án một cách hợp lý, khắc phục tình trạng nơi thừa vẫn thừa, nơi thiếu vẫn thiếu và có tiền nhưng không tiêu được, vẫn nợ đọng xây dựng cơ bản.

Một nguyên nhân khác là dù ở nhiều địa phương, bộ ngành, các điều kiện thể chế tương đồng nhau, triển khai các dự án cũng tương tự nhau, nhưng có những bộ ngành, địa phương giải quyết rất tốt, có những bộ ngành, địa phương giải ngân rất kém. Nhiều bộ, ngành, địa phương giải ngân chưa được 20% kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản của năm 2019, thậm chí cũng điều kiện như vậy giải ngân lại thấp hơn năm 2018.

Nguyên nhân là do trách nhiệm của người đứng đầu trong việc triển khai tổ chức thực hiện. Thậm chí, có cảm giác lãnh đạo một số bộ ngành, địa phương không quyết liệt vì việc triển khai này đụng chạm đến rất nhiều vấn đề, chẳng hạn giải phóng mặt bằng, nên ngại đụng chạm nhiều.

PV: - Một trong những dự án trọng điểm có tiến độ giải ngân vốn đầu tư công chậm được Thủ tướng nhắc tới trong hội nghị trực tuyến là dự án sân bay Long Thành.

Theo đó, tỉnh Đồng Nai đã có khoản vốn trên 11.000 tỷ đồng chuyển về tài khoản, nhưng đến nay vẫn nói để tháng 10 sang năm mới làm. Và theo số liệu của Bộ KH-ĐT, đến nay dự án sân bay Long Thành mới giải ngân được khoảng 300 tỷ đồng.

Thưa ông, ông nhận xét thế nào về trường hợp dự án sân bay Long Thành? Nguyên nhân thực sự của việc chậm giải ngân cho dự án này là gì?

Dau tu cong: Go nut that co tien khong tieu duoc?
Dự án sân bay Long Thành tiền đã về tài khoản nhưng đến nay mới giải ngân được hơn 300 tỷ đồng 

Ông Bùi Đức Thụ: - Dự án xây dựng sân bay Long Thành là công trình trọng điểm quốc gia, thuộc thẩm quyền của Quốc hội. Quốc hội khóa XIII đã quyết định chủ trương đầu tư dự án này.

Sau quyết định chủ trương đầu tư dự án theo quy định của pháp luật, Chính phủ phải chỉ đạo xây dựng báo cáo nghiên cứu khả thi dự án và các thủ tục thiết kế, đấu thầu… Những việc này vừa qua tiến hành có chậm nhưng đó là thủ tục để làm dự án.

Riêng có một hạng mục trước kia nằm trong tổng dự án, sau được tách ra thành dự án độc lập là đền bù giải phóng mặt bằng, thực hiện tái định cư cho người dân trên đất bị giải tỏa để xây dựng sân bay. Không ai có thể làm tốt việc này bằng chính quyền địa phương, do đó Chính phủ đã giao cho tỉnh Đồng Nai, nơi có sân bay Long Thành, thực hiện đền bù, giải phóng mặt bằng.

Trong quá trình thực hiện dự án đền bù giải phòng mặt bằng để di dân, thu hồi đất thì đụng chạm đến rất nhiều vấn đề.

Đầu tiên, để thu hồi được đất của dân, đối với đất ở thì phải tiến hành tái định cư cho người dân. Phải quy hoạch, bố trí chỗ ở mới cho người dân rồi mới thu hồi đất cũ, đền bù theo thỏa thuận.

Đối với đất nông nghiệp, phải tính đền bù và tạo điều kiện để họ sống được ở nơi ở mới. Nếu chỉ thu hồi thuần túy, chuyển người dân sang chỗ ở mới mà không có công ăn việc làm, chỉ trông vào mấy đồng tiền đền bù của Nhà nước thì nguy cơ tái nghèo và xuất hiện các vấn đề xã hội là rất lớn.

Tất nhiên, trong thu hồi đất phục vụ cho xây dựng sân bay Long Thành đụng chạm đến đất của các tổ chức kinh tế, nông trường cao su, đất của các tổ chức, cơ quan nhà nước.

Để làm được những điều này thì tỉnh Đồng Nai phải có kế hoạch, đề án cụ thể để giải quyết những vấn đề thực tiễn. Đồng thời với đó là việc vận động, tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật của Nhà nước trong công tác giải phóng mặt bằng để người dân đồng thuận với đường lối, chủ trương chung của Đảng và Nhà nước, từ đó thực hiện cho nhanh cho gọn.

Thực tế cho thấy, từ công tác chuẩn bị những điều kiện cần và đủ đến công tác tuyên truyền đều chưa được chú trọng đúng mức. Hệ quả là khi người dân đồng ý thì chúng ta lại làm chậm, trong khi giá cả thị trường bất động sản tăng, thậm chí lên cơn sốt như thời gian vừa qua khiến mức giá đền bù trước đây được cho là hợp lý giờ không được người dân chấp nhận nữa.

Chính điều này làm chậm quá trình đền bù giải phóng mặt bằng, tạo nên sự thiếu thống nhất của người dân trong việc đền bù, thu hồi đất, đồng thời làm tăng tổng mức đầu tư, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước. Nếu như chúng ta làm trước, làm kịp thời thì sẽ tốt hơn.

Rõ ràng, đền bù, giải phóng mặt bằng là vấn đề phức tạp và khó khăn, nhưng việc tổ chức thực hiện của chúng ta cũng chưa quyết liệt, chưa lường hết được các vấn đề và những việc phải làm, chưa có một đề án tổng hợp coi đó như một nhiệm vụ chính trị của địa phương và phải làm nhiều khâu đồng bộ với nhau. Nếu làm càng chậm thì như nói ở trên, chi phí đền bù ngày càng tăng, mà sự phức tạp do khó giải phóng mặt bằng sẽ càng lớn.

Bây giờ, nguồn kinh phí thực hiện dự án sân bay Long Thành đã được bố trí, chế độ chính sách cũng đã được phân cấp, phân quyền theo quy định của pháp luật, vấn đề còn lại là tổ chức thực hiện. Đó là nhiệm vụ của cấp ủy, chính quyền Đồng Nai.

PV: - Một điều khiến dư luận băn khoăn là vốn thực hiện dự án đầu tư công đã nằm trong tài khoản, nhưng vì nhiều lý do mà chưa thực hiện dự án, vậy phần vốn ấy sẽ “nằm chết” trong tài khoản một cách lãng phí, phải làm sao để tránh tình trạng “tiền đực” không sinh lời này, thưa ông?

Ông Bùi Đức Thụ: - Vốn bố trí cho dự án nằm trong kế hoạch vốn và nó vẫn nằm trong kho bạc, tức trong túi Nhà nước, chưa được đẩy ra ngoài vì chưa giải ngân. Mà việc giải ngân, nói một cách nôm na, là khi triển khai dự án, ký được hợp đồng thì có thể tạm ứng một phần và sau này căn cứ vào khối lượng công việc thực hiện thì nhà thầu phối hợp với chủ đầu tư, ban quản lý dự án có thể thanh toán ở kho bạc.

Những năm vừa qua, vì quá trình giải ngân chậm thì Kho bạc Nhà nước tồn ngân. Để quản lý, sử dụng đỡ lãng phí ngân sách nhà nước thì từ năm ngoái tới năm nay, Chính phủ đã chỉ đạo: tất cả các tài khoản của kho bạc đều mở ở Ngân hàng Nhà nước các cấp là chính, chỗ nào không có chi nhánh Ngân hàng Nhà nước thì mới mở ở ngân hàng thương mại. Do đó, nguồn tiền đó lồng trong chính sách tiền tệ nói chung để Ngân hàng Nhà nước điều hành cho thống nhất và không lo bị thất thoát.

Khi có kế hoạch, dự toán được phân bổ thì kho bạc ứng ra và sau này kho bạc phải kiểm soát việc chi xem có đúng mục tiêu, đối tượng, tiêu chuẩn, chế độ định mức hay không ngay từ khâu tiền ra, không phải cứ giao tiền nhà nước cho địa phương, địa phương muốn tiêu gì thì tiêu.

Nhưng tôi nhấn mạnh là việc này chỉ hạn chế sự lãng phí, bởi một mặt Kho bạc Nhà nước vẫn phải phát hành trái phiếu chính phủ để đi vay, đồng thời lại không được sử dụng, phải gửi vào hệ thống chi nhánh Ngân hàng Nhà nước. Như vậy thì không có lãi. Đây là một quy trình rườm rà, phức tạp và tốn kém chi phí cần phải xử lý.

PV: - Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ rõ trách nhiệm của người đứng đầu trong căn bệnh giải ngân vốn đầu tư công chậm. Người đứng đầu Chính phủ yêu cầu Chủ tịch UBND cấp tỉnh, các bộ trưởng, trưởng ngành, các đơn vị phục vụ đầu tư xây dựng cơ bản chịu trách nhiệm toàn diện trước Chính phủ, Thủ tướng trong việc chỉ đạo thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện giải ngân vốn đầu tư công. 

Thưa ông, động thái kiên quyết của Chính phủ sẽ hóa giải các vướng mắc dẫn đến chậm giải ngân vốn đầu tư công như thế nào?

Ông Bùi Đức Thụ: - Tôi rất đồng tình với yêu cầu này của Thủ tướng. Để đảm bảo được hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực công, ở đây là nguồn lực vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho các dự án công trình thiết yếu của đất nước, cần phải kiểm điểm, đánh giá và nêu cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đặc biệt người đứng đầu trong việc quản lý, sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản nói riêng và vốn đầu tư ngân sách nhà nước nói chung, coi đó là chất lượng hoạt động, hiệu quả của công việc, là năng lực của lãnh đạo, quản lý, điều hành của cá nhân đó. Đây cũng chính là căn cứ để đánh giá, bố trí cán bộ.

Nếu như người đứng đầu các cơ quan được phân công, giao nhiệm vụ mà lại triển khai giải ngân không tốt, thì coi như người đó không hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao và có thể bị kỷ luật tùy theo mức độ. Và tất nhiên là không thể nào đề bạt, xem xét những nhân sự đó trong thời gian tới.

Chỉ trong trường hợp đó, kỷ luật cán bộ công vụ mới được đánh giá công bằng dựa trên hiệu quả công việc và lập lại trật tự, kỷ cương, hiệu lực quản lý hành chính nhà nước.

Nếu đảm bảo đầy đủ những yêu cầu đó, chắc chắn việc quản lý vốn đầu tư công nói chung và giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản nói riêng sẽ được cải thiện.

Thành Luân

Thứ Tư, 09/10/2019 13:22

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện