Mở bể than sông Hồng: Băn khoăn trữ lượng, công nghệ

(Khoa học) - Chuyên gia cho rằng nên tập trung khai thác thử nghiệm ở Khoái Châu (Hưng Yên) bằng công nghệ khí hóa than ngầm.

210 tỷ tấn hay 30 tỷ tấn?

Kể từ năm 2009, vấn đề mở bể than sông Hồng được các nhà khoa học, nhà quản lý, nhân dân vùng có than và dư luận xã hội rất quan tâm.

Vấn đề được quan tâm nhất là có nên mở bể than sông Hồng hay không và bằng cách nào khai thác được than của bể than sông Hồng nhưng không được ảnh hưởng tới môi trường và xã hội.

Dẫn Quyết định 403/QĐ-TTg ngày 14 tháng 3 năm 2016 về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020 (gọi tắt là Quy hoạch than 403/2016), có xét triển vọng đến năm 2030, PGS. TS Nguyễn Cảnh Nam (Hội khoa học và Công nghệ mỏ Việt Nam) cho biết, tiềm năng tài nguyên than ở bể than sông Hồng tương đối lớn, hơn 42 tỷ tấn nhưng mức độ thăm dò còn rất hạn chế, tài nguyên đạt cấp tin cậy chỉ có khoảng 525 triệu tấn, còn lại là tài nguyên dự tính (gần 955 triệu tấn) và dự báo (hơn 40,5 tỷ tấn), phân bố chủ yếu ở Thái Bình, Hưng Yên và Nam Định.

Trong khi đó, ông Nguyễn Xuân Nhự, Chủ tịch Chi hội Dầu khí Thái Bình, qua các tài liệu dầu khí, cho biết con số trữ lượng 210 tỷ tấn của bể than sông Hồng là không chính xác.

Theo đó, con số này lần đầu được nhắc đến báo cáo của ông Vũ Xuân Doanh (Viện Khoa học địa chất và khoáng sản, Bộ TN-MT). Sau khi phân tích tổng hợp kết quả các LK cấu trúc địa chất, các LK tìm kiếm-thăm dò than, các LK thăm dò dầu khí và kết quả đo địa chấn..., ông Doanh cho rằng miền võng Hà Nội có diện tích chứa than đến 2.500km2 với bề dày trầm tích trung bình 2.100m và chứa từ 30 đến 100 vỉa than trong trầm tích Miocen thượng (hệ tầng Tiên Hưng) và dự báo trong trầm tích hệ tầng Tiên Hưng chứa khoảng 210 tỷ tấn than biến chất thấp.

Mo be than song Hong: Ban khoan tru luong, cong nghe
Theo chuyên gia, khả năng khai thác của bể than sông Hồng chỉ là 30 tỷ tấn. Ảnh minh họa

Chủ tịch Chi hội Dầu khí Thái Bình cho biết, dù báo cáo của ông Vũ Xuân Doanh đã được Tổng cục Địa chất phê duyệt năm 1985 nhưng đây là báo cáo có nhiều sai sót, thậm chí những địa tầng không có than lại thống kê có số vỉa than và  tổng chiều dày lớn hơn cả địa tầng chính chứa  than.

Theo tài liệu dầu khí, tại ĐBSH có khoảng 125 giếng khoang chiều sâu từ 1.200-4.000m, trong đó chiều sâu từ 2.400-400m chiếm trên một nửa. Với những giếng khoan và chiều sâu như thế, than tập trung chủ yếu ở địa tầng Tiên Hưng với chỗ sâu nhất là 2.000m và ít hơn trong địa tầng Phù Cừ 2 ở khoảng chiều sâu 1.600m. Tương tự khu vực Kiến Xương cũng có ít than. Ở Phong Châu cũng có than nhưng những vỉa than chỉ dài 50 phân-1m, trữ lượng nhỏ.

Vì lẽ đó, theo ông Nguyễn Xuân Nhự, khi đặt vấn đề nghiên cứu trữ lượng chỉ nên làm đến chiều sâu không quá 2.000m

"Việc khai thác toàn bộ tài liệu dầu khí ĐBSH để phục vụ đề án này không ở đâu tinh nhuệ bằng lực lượng của Hội Dầu khí Việt Nam, nơi tập trung các chuyên gia hàng đầu nghiên cứu địa chất ĐBSH. Khối lượng tài liệu ấy hoàn toàn có thể làm rõ được cấu trúc địa chất của ĐBSH nói chung.

Dưới góc độ quản lý nhà nước, việc đánh giá tài nguyên, khai thác than ở ĐBSH là vô cùng phức tạp và tốn kém. Nếu dùng ngân sách nhà nước để đánh giá tài nguyên thì ngân sách không chịu nổi. 

Vì vậy, tôi đề nghị đánh giá tài nguyên ở mức cao nhất nhưng đánh giá trữ lượng ở mức thấp nhất để ngân sách có thể chịu được, đồng thời có con số trữ lượng có thể tin cậy vừa phải, trên cơ sở đó kết thúc điều tra cơ bản. Phần còn lại, các doanh nghiệp khai thác thì phải khoanh lại, để họ thăm dò, đưa ra phương án khai thác phù hợp và Nhà nước sẽ kiểm tra, quản lý việc ấy".

TS Nguyễn Thành Sơn, nguyên Trưởng Ban Chiến lược Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam (TKV) cũng dẫn các tính toán cho biết, trong 210 tỷ tấn trữ lượng than ở ĐBSH chỉ có thể khai thác được khoảng 30 tỷ tấn.

Dùng công nghệ nào?

PGS.TS Nguyễn Cảnh Nam cho biết, các chuyên gia đánh giá công nghệ khai thác than có thể xem xét áp dụng tại bể than ĐBSH là công nghệ khai thác hầm lò, công nghệ khí hóa than ngầm và công nghệ hóa-sinh. Đến nay trên thế giới và ở Việt Nam chỉ mới có công nghệ khai thác hầm lò được áp dụng phổ biến trong thực tế, còn công nghệ khí hóa than ngầm và hóa-sinh còn rất mới mẻ, mới chỉ ở giai đoạn thử nghiệm.

Trước đây, trong Quy hoạch than 60/2012 đề xuất đầu tư dự án thử nghiệm khai thác theo phương pháp khai thác hầm lò và phương pháp công nghệ khí hóa than ngầm tại mỏ Khoái Châu (thuộc huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên) trong giai đoạn đến năm 2020. Tiếp theo trong Quy hoạch than 403/2016 đề xuất đầu tư dự án thử nghiệm khai thác tại Mỏ Nam Thịnh - Tiền Hải trong giai đoạn sau 2020 đến 2025.

Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan nên chưa triển khai thực hiện được dự án thử nghiệm nào. Do vậy, đến nay vẫn chưa biết được công nghệ hợp lý cho việc khai thác bể than ĐBSH.

Vị chuyên gia kiến nghị nên tập trung thử nghiệm khai thác tại mỏ Khoái Châu: "Việc điều tra, thăm dò than tại bể than ĐBSH tuy chưa nhiều song cũng đủ kết luận là tại đây có tiềm năng về than, than có chất lượng đáp ứng yêu cầu, điều kiện địa chất hết sức phức tạp, đặc biệt tại mỏ Khoái Châu đã thăm dò đạt cấp tin cậy, đủ điều kiện để lập dự án đầu tư khai thác thử nghiệm.

Thứ Tư, 05/12/2018 15:24

Sự Kiện